• 1
  • 3
Diễn đàn của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHTN Việt Nam, Đội TNTP HCM tỉnh Kiên Giang
Các đơn vị tài trợ website
Liên kết website

Sau khi nổ súng xâm lược nước ta, thực dân Pháp phải mất gần 30 năm mới đặt được bộ máy thống trị của chúng do sự ươn hèn của vua quan nhà Nguyễn ký Hiệp ước công nhận quyền bảo hộ cho bọn thực dân năm 1884.


 

Từ đó, nhân dân ta phải sống trong cảnh lầm than, cơ cực dưới hai tầng áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến. Bọn cướp nước và bè lũ tay sai bán nước đã thi hành một chính sách cai trị cực kỳ dã man, tàn bạo. Chúng trắng trợn đàn áp về chính trị, bóc lột tàn tệ về kinh tế, đầu độc thâm hiểm về văn hoá và tinh thần. Trong tình cảnh đó, các tầng lớp thanh niên nước ta không sao thoát khỏi số phận đen tối. Một trong muôn vàn tội ác của bọn thực dân phong kiến đối với thanh niên là buôn người đưa họ bán đi biệt xứ làm phu trên các đảo xa xôi. Bán được một thanh niên, chúng lãi ba nghìn frăng (tiền Pháp). Hàng vạn thanh niên đã trở thành nạn nhân của tội ác này, đem về cho bọn thực dân món lãi kếch xù hàng trăm triệu frăng. Thanh niên công nhân bị bóc lột vô nhân đạo từ tuổi thiếu niên. Không ai khác, chính một nhà báo Pháp đã viết: “Khi tôi tới thăm Hòn Gai, mỏ than lúc nhúc những người rách rưới, gầy guộc. Đằng sau những chiếc goòng, các “nhóc” còng lưng đẩy xe, những thân hình bé nhỏ, khô rạc. Tiền lương danh nghĩa 15 xu, thực tế 12 giờ mỗi ngày chúng chỉ nhận được 7 xu rưỡi vì chúng là nhóc". Trong lúc đó vốn của Công ty than Hòn Gai lúc đầu là 16 triệu frăng, nhưng chỉ riêng năm 1925, bọn chủ mỏ đã lãi tới 36,2 triệu frăng. Tiền lãi một năm nhiều hơn hai lần tiền vốn bỏ ra lúc đầu. Tương tự như vậy, năm 1919 vốn tài chính của Công ty cao su Nam kỳ có 16 triệu frăng, sau lấy lãi bỏ thêm vào năm 1924 tăng lên 100 triệu. Năm 1925 công ty này thu lãi trên 31 triệu frăng cho bọn chủ thực dân. Cứ như thế trong lúc túi tiền của bọn chủ thực dân, tư bản ngày càng đầy thì:


Cao su xanh tốt lạ đời
Mỗi cây bón một xác người công nhân!


Từ khi Việt Nam bị thực dân Pháp thống trị cho đến năm 1929, nhân dân và tuổi trẻ nước ta liên tiếp nổi dậy đấu tranh quyết liệt không quản máu chảy, đầu rơi. Mặc dù vậy, những năm đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước vẫn lâm vào tình trạng bế tắc, song ngọn lửa căm thù quân xâm lược và dũng khí đấu tranh của nhân dân ta chưa bao giờ bị dập tắt.

Nguyên nhân cơ bản của sự bế tắc nêu trên chính là do thiếu một đường lối đúng đắn, một tổ chức chặt chẽ nên cuối cùng các phong trào đấu tranh đều bị kẻ thù dìm trong biển máu. Tình trạng khủng hoảng về lãnh đạo đòi hỏi phải được giải quyết để đưa cách mạng nước ta tiến lên. Đúng vào thời điểm này, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau lấy tên là Nguyễn ái Quốc đã mở đầu cuộc hành trình hết sức quả cảm và gian lao đi tìm đường cứu nước, cứu dân…

Giữa năm 1911, ở độ tuổi 20, Nguyễn ái Quốc xuống tàu mang tên Đô đốc Latusơ Tơrêvin tại cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) đi ra nước ngoài với ý thức tìm hiểu nước Pháp và các nước khác làm thế nào mà trở lên độc lập, hùng cường rồi sẽ “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức, đoàn kết và huấn luyện để đưa họ đấu tranh giành quyền tự do, độc lập". Nguyễn ái Quốc đã đến Pháp, và đi qua nhiều nước châu Phi, đến Mỹ, Anh…vv… và trở lại Pháp vào cuối năm 1917 lúc chiến tranh thế giới lần thứ nhất ở vào giai đoạn quyết liệt nhất.


Tại Paris, Người kết bạn với nhiều nhà hoạt động xã hội, văn hoá có uy tín lớn của nước Pháp. Người viết nhiều bài báo tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa, tranh thủ mọi diễn đàn, những buổi hội họp, mít tinh, sinh hoạt câu lạc bộ để tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia và các nước thuộc địa khác.


Với nhiệt huyết của tuổi thanh niên, Nguyễn ái Quốc sáng lập ra “Nhóm những người Việt Nam yêu nước” tại Pháp. Thành viên của nhóm hầu hết là thanh niên công nhân, binh lính và những người du học (thực dân Pháp đã bắt hơn 10 vạn thanh niên nông dân, công nhân sang phục vụ chiến tranh thế giới lần thứ nhất tại Pháp). Nhóm hoạt động mạnh mẽ làm cho giới cầm quyền Pháp rất lo ngại. Do công tác tuyên truyền, tổ chức của nhóm được tiến hành tích cực nên cơ sở của nhóm phát triển khá mạnh. Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã chân thành mời hai nhà yêu nước Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường tham gia “Nhóm những người Việt Nam yêu nước”, song cả hai ông không tán thành, vì các ông cho rằng “nhóm thanh niên ấy là trẻ con”.

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, Hội nghị Vécxây (Versailles) giữa các nước thắng trận họp tại Thủ đô Paris vào ngày 18/6/1919. Nguyễn ái Quốc thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Pháp đưa tới Hội nghị tám điểm đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng và tự quyết của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách này được gửi đến các đoàn đại biểu Đồng minh và tất cả các nghị viên của Quốc hội Pháp. Báo “Nhân đạo” (L'Humanité) và nhiều nhật báo khác ở Pháp đã đăng nguyên văn hoặc trích đăng bản yêu sách chính trị quan trọng này. Nguyễn ái Quốc cùng những đồng chí của Người đã cho in bản yêu sách thành truyền đơn gửi về trong nước. Dư luận ở Paris cũng như ở Pháp coi việc làm của người thanh niên yêu nước Nguyễn ái Quốc như quả bom chính trị nổ ngay giữa Paris.

Tháng 7 năm 1920, Nguyễn ái Quốc sung sướng, vui mừng vì được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin, khẳng định lập trường kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba.

Tại Đại hội của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua (Tours – 12/1920), Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III, và cùng những người chủ trương gia nhập Quốc tế III tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế cộng sản (Section Fran?aise de I’Internationale Communiste, viết tắt là S.F.I.C). Sự kiện Nguyễn ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Sự kiện này cũng đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc Việt Nam.

Năm 1921, tại Paris, Nguyễn ái Quốc cùng một số đồng chí của Người lại sáng lập ra “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” để đoàn kết các lực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân, thông qua tổ chức này đưa chủ nghĩa Mác – Lênin đến các dân tộc thuộc địa.


Thành viên trong tổ chức “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” cũng bao gồm tuyệt đại bộ phận là thanh niên giống như “Nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Pháp”. Điều này về sau được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định khi nhắc lại quá trình hình thành của Hội: “Hơn 40 năm trước đây, một nhóm thanh niên yêu nước, người của các thuộc địa Pháp, trong đó có thanh niên Việt Nam và thanh niên Ghinê, đã cùng nhau đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, để giành tự do, độc lập cho đất nước mình…”


Đây chính là loại hình Quốc tế Thanh niên thuộc địa theo quan điểm của Lênin mà Nguyễn ái Quốc bước đầu bắt tay thực hiện. Qua việc sáng lập các tổ chức mà đại bộ phận thành viên là những người yêu nước trẻ tuổi Việt Nam và các thuộc địa Pháp đã giúp Nguyễn ái Quốc sớm hình thành những quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá các khả năng cách mạng của tuổi trẻ cũng như hình thức, phương pháp đoàn kết, tập hợp họ. Đây là một trong nhiều hoạt động của Nguyễn ái Quốc trong phong trào thanh niên hồi đầu thế kỷ.


Thực tiễn phong phú này tạo điều kiện cho Người rút ra nhiều bài học kinh nghiệm về vận động thanh niên các nước thuộc địa.

Báo Người cùng khổ (Le Paria) do Nguyễn ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút đã cất lên tiếng nói đầu tiên vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc nói chung và của đế quốc Pháp ở Đông Dương nói riêng, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, trước hết là thanh niên tiểu tư sản, trí thức yêu nước hăng hái đứng lên đấu tranh để tự giải phóng.

Tại Việt Nam, khoảng những năm 1922, 1923 ở trường Trung học bảo hộ Hà Nội (còn gọi là trường Bưởi, nay là THPT Chu Văn An) nơi có nhiều học sinh con em tầng lớp trên được vào học để nhà nước bảo hộ chuẩn bị cho đội ngũ viên chức “Tây học”. Trường có kỳ thi tuyển chọn những người giỏi, trong đó đáng chú ý là nhóm bạn thân gồm Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Trần Tư Chính, Ngô Gia Tự, Trịnh Đình Cửu. Tự và Cửu là hai học sinh xuất sắc, họ hay vào thư viện tìm đọc những tác phẩm của Molie, Huygô, Banzắc… Theo hồi ký của Trịnh Đình Cửu thì không rõ bằng con đường nào, một hôm Ngô Gia Tự gọi Trịnh Đình Cửu đến chỗ vắng đọc cho nghe một đoạn trong bài thơ ngắn của Phan Bội Châu từ hải ngoại gửi về:

….Thương ôi! Bách Việt giang san
Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa
Hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh?
Anh em ta phải tính làm sao…?

Chẳng mấy chốc nhóm bạn thân trường Bưởi đã truyền cho nhau bài thơ chứa chan lòng yêu nước, thương nòi và trăn trở bởi câu hỏi cụ đặt ra: “Anh em ta phải tính làm sao?”

Nhưng rồi tin vui bỗng đến, mấy thanh niên từ Hải Phòng, Nam Định lên Hà Nội kể chuyện chính họ đã được đọc báo từ Pháp mang về có đăng “Yêu sách đòi quyền tự do, tự quyết” gửi đến các đại biểu nhiều nước dự Hội nghị Vécxây tại Paris của Nguyễn ái Quốc. Họ say sưa kể về ông Nguyễn lập Hội, xuất bản báo ngay trên đất Pháp để đấu tranh với Pháp. Quả là chuyện lạ mà có thật vì báo chí đã đăng, giấy trắng mực đen rõ ràng chứ đâu như thơ của cụ Phan phải truyền khẩu bí mật.

Anh em cử người về Hải Phòng và liên hệ với cả trong Nam để bắt liên lạc với thuỷ thủ trên các con tàu viễn dương từ Macxây (một hải cảng lớn của Pháp) sang, mong có thêm sách báo và tin tức về người lãnh đạo mới mà họ đang hướng tới: Nguyễn ái Quốc. Trong bối cảnh bế tắc, nghi ngờ của lớp thanh niên, học sinh, sinh viên về con đường do các sỹ phu lớp trước chủ trương bị thất bại, Nguyễn ái Quốc đưa ra nhận định sáng suốt trong bài viết về Đông Dương: “Một luồng gió giải phóng mạnh mẽ đang làm cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Người Airơlen, Ai Cập, Triều Tiên, ấn Độ… tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đang đấu tranh dũng cảm cho nền độc lập ngày mai của họ”. Và Người khẳng định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm”.
Thư của Nguyễn ái Quốc gửi thanh niên Việt Nam, báo Người cùng khổ và tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của Người từng bước thức tỉnh các tầng lớp thanh niên nước ta. Nguyễn ái Quốc là nhà yêu nước trẻ tuổi Việt Nam đầu tiên đã giải thích một cách đúng đắn rằng mọi sự chưa thành của lớp người đi trước là do thiếu tổ chức và thiếu người biết tổ chức, chưa có một đường lối đúng đắn, một tổ chức chặt chẽ.

Mùa hè năm 1923, Nguyễn ái Quốc đến Liên Xô, đất nước của Cách mạng Tháng Mười và V.I. Lênin vĩ đại. Tại Mátxcơva, Người tham gia nhiều Đại hội và Hội nghị quốc tế, viết nhiều bài đăng trên các báo Sự thật (?pabga) và Thư tín quốc tế (Correpondance Internationnale).

Ngày 17/6/1924, Nguyễn ái Quốc là đại biểu chính thức tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V khai diễn tại Nhà hát lớn Mátxcơva.

Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Quốc tế Thanh niên Cộng sản tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V đã liên hệ với Nguyễn ái Quốc và chính thức mời Người tham gia công việc chuẩn bị nội dung cho Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV sẽ họp vào thời gian sau đó. Từ khi còn hoạt động ở Pháp, Nguyễn ái Quốc đã có mối quan hệ với Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Người đã đến Hội trường Thanh niên Cộng hoà ở Paris để giới thiệu về phong trào thanh niên thế giới, phong trào thanh niên Đông Dương và các chủ trương của Quốc tế Thanh niên Cộng sản được người nghe rất hoan nghênh.

Ngày 15/7/1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV đã khai mạc tại Hội trường Công đoàn ở Mátxcơva. Đại hội được tiến hành khi Lênin qua đời vừa 6 tháng.

Những phần tử cơ hội và phản động Quốc tế cấu kết với các giới đế quốc điên cuồng mở cuộc tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Lênin và học thuyết cách mạng của Người. Phong trào Thanh niên Cộng sản Quốc tế đứng trước nhiệm vụ cấp bách là đẩy lùi và đập tan những luận điệu lừa bịp ấy nhằm tiếp tục tranh thủ trái tim và khối óc của hàng triệu thanh niên cộng sản trong đó có phong trào thanh niên cộng sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Trong bối cảnh đó, Đại hội IV Quốc tế Thanh niên Cộng sản có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với di huấn của V.I.Lênin vĩ đại: “Sự nghiệp to lớn và tất yếu của các đồng chí là chuẩn bị cho tuổi trẻ sẵn sàng tham gia cuộc đấu tranh cách mạng và trong việc học tập”.

Là người đại diện ưu tú của các dân tộc bị áp bức, ngay trước khi tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Nguyễn ái Quốc đã đề nghị với Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản về việc thành lập “Nhóm châu á” tại trường Đại học Phương Đông nhằm tạo điều kiện cho thanh niên, học viên có cơ hội nghiên cứu tình hình, đặc điểm của các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Là thành viên trong đoàn Chủ tịch trực tiếp lãnh đạo Đại hội, bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú đã trải qua, nhất là sự hiểu biết sâu rộng về tình cảnh thanh niên các nước thuộc địa, Nguyễn ái Quốc đã có những đóng góp quan trọng vào việc soạn thảo hàng loạt văn kiện của Đại hội.

Đặc biệt, Nguyễn ái Quốc là người chủ trì và là tác giả chính trong nhóm tác giả soạn thảo bản “Luận cương về thanh niên thuộc địa” nổi tiếng theo tư tưởng của Lênin, Người đã trực tiếp trình bày văn kiện hết sức quan trọng này tại Đại hội và được Đại hội nhất trí thông qua. Luận cương mở đầu bằng việc đánh giá và khẳng định rằng từ năm 1919 đến năm 1924, phong trào thanh niên thuộc địa đã có những chuyển biến mạnh mẽ dưới ngọn cờ của Quốc tế Cộng sản và được ảnh hưởng của Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga. Năm 1919 là thời điểm V.I.Lênin sáng lập ra Quốc tế Thanh niên Cộng sản và Nguyễn ái Quốc đã may mắn sớm có mối liên hệ với tổ chức này. Luận cương nhận định rằng thanh niên các thuộc địa dần dần hướng phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản. Họ đi theo ngọn cờ của Lênin vì họ tìm thấy ánh sáng soi đường trong Luận cương về vấn đề dân tộc nổi tiếng của Người.

Tiếp đến, Luận cương về thanh niên thuộc địa nêu lên yêu cầu cấp bách phải tổ chức, tập họp lực lượng thanh niên cách mạng và xây dựng cơ sở Đoàn Thanh niên Cộng sản ở các thuộc địa. Đây là mâu thuẫn gay gắt nổi lên trong những năm đầu thế kỷ ở các thuộc địa, giữa đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và những khả năng để giải quyết những nhiệm vụ đó. Vấn đề “Thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức” mà sau này vào năm 1925 trong “Thư gửi thanh niên An Nam” của đồng chí Nguyễn ái Quốc đã chỉ rõ là tình hình chung của nhiều nước thuộc địa khác trên thế giới chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Luận cương về thanh niên thuộc địa đặt ra yêu cầu khẩn thiết về việc hình thành các đoàn thể thanh niên cách mạng và tiến tới xây dựng các tổ chức thanh niên cộng sản ở thuộc địa là nhằm giải quyết mâu thuẫn nêu trên.

Cuối cùng, Luận cương về thanh niên thuộc địa nhấn mạnh việc tăng cường mối liên hệ giữa các tổ chức thanh niên cách mạng, thanh niên cộng sản ở các thuộc địa với tổ chức thanh niên cộng sản ở chính quốc.
Luận cương vạch ra những công việc cụ thể về giúp đỡ vật chất, tinh thần của các tổ chức TNCS chính quốc với các tổ chức TNCS ở thuộc địa.

Nghiên cứu toàn bộ Luận cương về thanh niên thuộc địa do đồng chí Nguyễn ái Quốc chủ trì soạn thảo tại Đại hội lần thứ IV Quốc tế TNCS (1924) chúng ta tìm thấy nhiều ý tưởng, quan điểm về vấn đề thanh niên thuộc địa mà trước đó đồng chí Nguyễn ái Quốc đã nhiều lần đề cập đến trong các bài viết của Người trên báo chí của Đảng Cộng sản Pháp hoặc trong các cuộc tranh luận nội bộ về các vấn đề có quan hệ đến trách nhiệm của Đảng đối với phong trào thuộc địa cũng như các bài viết của Nguyễn ái Quốc đăng trên tạp chí Thư tín quốc tế của Quốc tế Cộng sản và báo Sự thật của Đảng Cộng sản Liên xô.

Luận cương về thanh niên thuộc địa đã đưa ra những quan điểm rất cơ bản và chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể về tổ chức, giáo dục và hướng dẫn cuộc đấu tranh vì những mục tiêu độc lập, tự do, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc của thanh niên các nước thuộc địa.

Luận cương vừa có giá trị như một cương lĩnh chính trị, vừa như một chương trình hành động phù hợp với tình hình, nguyện vọng của hàng chục triệu thanh niên đang bị áp bức, đoạ đày do chính sách và những hành động tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc cấu kết với phong kiến bản địa.

Giữa năm 1925, nghĩa là chỉ hơn một năm sau khi Luận cương về thanh niên thuộc địa được nhất trí thông qua tại Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, tác giả của văn kiện nổi tiếng này: Đồng chí Nguyễn ái Quốc, lãnh tụ của dân tộc và giai cấp công nhân Việt Nam đã triển khai thắng lợi chủ trương xây dựng một tổ chức thanh niên cách mạng ở Việt Nam, một nước thuộc địa của Pháp là Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (trước đây thường gọi là Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội), một tổ chức bao gồm phần lớn là thành viên trẻ tuổi theo xu hướng cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong những năm tháng Nguyễn ái Quốc sống và hoạt động ở Liên Xô (1923-1924) cũng là lúc phong trào cách mạng ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Quảng Châu là trung tâm cách mạng của đất nước Trung Hoa rộng lớn. Quảng Châu trở thành địa bàn quan trọng của những nhà yêu nước Triều Tiên, Indonesia,… Nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam xuất dương vào đầu những năm 20 cũng đã đến đây và được tập hợp vào trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Đầu năm 1924, Phạm Hồng Thái sang Quảng Châu và gia nhập Tâm Tâm Xã. Tháng 2/1924, Phạm Hồng Thái thực hiện nhiệm vụ ném tạc đạn nhằm mưu sát tên toàn quyền Méclanh (Merlin) nhân dịp y đi công cán qua Quảng Châu.

Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méclanh của người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tuy không thành công “nhưng nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”, là hiệu kèn thúc giục nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam dấn thân trên con đường tranh đấu.
Năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Hàng chục vạn thanh niên thuộc đủ các tầng lớp trong cả nước đã sôi sục đấu tranh đòi bọn cầm quyền ở Đông Dương phải thả cụ. Năm 1925, cụ Phan Chu Trinh mất, hơn 140 ngàn người trong đó có hàng vạn thanh niên, học sinh đã tập h

Số lần đọc: 1724

Tin liên quan